Skip navigation links
Trang chủ
Giới thiệu
Thời sự
Tin hoạt động TG
Văn bản
Tuyên truyền
Thông tin CTTG
Khoa giáo
Giáo dục LLCT
Lịch sử Đảng
Văn hóa-Văn nghệ
Được cập nhật lúc : 06/05/2014 9:09 SA
Phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ, quân và dân Hải Dương tổng công kích địch
 

Trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng bộ và nhân dân Hải Dương đã kiên cường chiến đấu giành từng tấc đất, tiêu diệt từng tên địch, góp phần làm nên thắng lợi chung của cả dân tộc. Một trong những đóng góp hết sức quan trọng và có ý nghĩa lớn là sự phối hợp chiến đấu trong chiến dịch Điện Biên Phủ làm "Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu".

Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị họp phê chuẩn kế hoạch tác chiến của Tổng quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Điện Biên Phủ là một thung lũng thuộc tỉnh Lai Châu (nay là tỉnh Điện Biên), cách Hải Dương khoảng 350km theo đường chim bay. Thực dân Pháp xây dựng Điện Biên Phủ thành một cứ điểm quân sự mạnh từ tháng 11/1953. Những điểm yếu của căn cứ điểm Điện Biên Phủ là độc lập, xa hậu phương, mọi sự tiếp tế phải vận chuyển từ nơi khác đến bằng đường bộ, rồi đường không.

Trước khi mở chiến dịch Điện Biên Phủ, Bộ tổng tư lệnh đã chỉ thị cho Khu ủy và Bộ Tổng tư lệnh khu Tả Ngạn "Phải đẩy mạnh hoạt động trên tuyến đường 5, đường sắt; mở đợt tổng công kích địch ở mọi nơi để nghi binh đánh lạc hướng địch, ngăn chặn tối đa việc tiếp tế của chúng cho Điện Biên Phủ". Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính Trị và nhiệm vụ do Khu ủy và Bộ Tư lệnh khu Tả Ngạn giao, Tỉnh ủy Hải Dương đã có chủ trương: Tích cực hoạt động tiêu diệt địch, cướp vũ khí, phá hoại mọi cuộc càn quét của chúng, bảo vệ nhân, vật lực, đẩy mạnh công tác ngụy vận, phá hoại giao thông làm giảm vận chuyển của địch. Từ đó quân, dân trong tỉnh và bộ đội chủ lực liên tục phá càn, đánh giao thông, vây hãm đồn bốt, tháp canh của địch gây cho chúng nhiều thiệt hại.

Sau các trận đánh của ta vào các vị trí Viên Chử (Kim Thành), Tiền Trung, Ba Hàng (Nam Sách), Thịnh Vạn (Bình Giang) là trận đánh vào cứ điểm Phương Điếm (6-12) thì việc vận chuyển của địch dọc tuyến đường sắt, đường 5 thực sự bị uy hiếp. Địch phải đưa binh đoàn cơ động số 8 về giữ đoạn đường từ thị xã Hải Dương xuống Hải Phòng và binh đoàn cơ động số 3 về giữ đoạn đường từ thị xã Hải Dương đi Hà Nội. Từ ngày 7 đến ngày 12/1/1954 địch mở trận càn mang tên Algêrie với hai binh đoàn cơ động đánh phá địa bàn các tỉnh phía bắc sông Luộc. Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, quân và dân Hải Dương vẫn hướng về chiến trường chính, không bị hút vào âm mưu của của chúng, chủ động chống càn thắng lợi, đánh địch trên khắp mọi nơi, điển hình là trận đánh địa lôi ở ga Phạm Xá ngày 31/01/1954, do ông Nguyễn Văn Thoà phụ trách làm đổ 4 toa tàu, 5 toa khác bị hư hại, hơn 1000 tên dịch bị chết và bị thương.

Ngày 23/02/1954 Bộ Chính trị ra Chỉ thị "Việt Bắc và Tả Ngạn phải phối hợp chặt chẽ. Tả Ngạn cần phải mở đợt hoạt động mạnh liên tiếp trong thời gian dài, với quy mô nhỏ, ăn chắc, chủ yếu là đánh du kích ... Phải lợi dụng mọi cơ hội phá hoại đường giao thông của địch, nhất là đường sắt, đường số 5, chống bắt lính, đồng thời phát triển cơ sở của ta".

Đêm ngày 13/3/1954, chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu. Theo sự chỉ đạo của Khu ủy và Bộ tư lệnh khu Tả Ngạn, ngay đêm 13-3 quân dân Hải Dương đã đồng loạt phá đường sắt, đường 5 Hà Nội - Hải Phòng làm cho tuyến đường này từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 3 hoàn toàn bị tê liệt. Hai tiểu đoàn của tỉnh cùng du kích các huyện Cẩm Giàng, Bình Giang, Kim Thành còn tiêu diệt nhiều vị trí báo chính đoàn, tháp canh, hương đồn và đồng loạt phá tề phản động mở rộng khu du kích. Ngày 13 và 14 -3, du kích xã Tân Trường, Lai Cách, Việt Hoà, Bình Định (Cẩm Giàng) phối hợp với bộ đội kiên cường chống lại các đợt phản công của địch vào địa phương. Đại đội giao thông chiến của tỉnh đánh mìn làm sập cầu Mao Điền và phá huỷ một xe quân sự. Ngày 26-3 du kích huyện Cẩm Giàng phối hợp với bộ đội trung đoàn 42 phục kích đoạn đường ở xã Lương Xá, phá huỷ 1 xe tăng, 11 xe vận tải, 1 khẩu đại bác, bắt sống 108 tên. Sau hai tuần phối hợp chiến đấu với chiến trường Điện Biên Phủ, quân và dân Hải Dương cùng các đơn vị chủ lực tiến công địch ở mọi vị trí, nhất là đường sắt và đường 5, tiêu diệt nhiều sinh lực địch và phương tiện chiến tranh, đã cầm chân quân cơ động của chúng, hạn chế việc vận chuyển vũ khí, lương thực, thực phẩm và binh lính lên Điện Biên Phủ. Riêng việc công phá đường sắt, đường 5, Hải Dương đã huy động 25 nghìn lượt người, phá huỷ được hàng nghìn mét thanh Tà-vẹt.

Ngày 30/3/1954, mặt trận Điện Biên Phủ mở cuộc tổng công kích lần 2, tháng 4 năm 1954 quân dân Hải Dương đã tổ chức hàng chục lần đánh địa lôi, phá hàng chục đầu máy, toa xe lửa và hàng trăm xe cơ giới của địch. Đêm 2-4, đại đội giao thông chiến phối hợp với du kích Cẩm Giàng phá huỷ 1 đầu tàu và 20 toa xe chở hàng quân sự tại đoạn đường sắt chùa Dê, xã Cẩm Định (Cẩm Giàng). Ngày 6-4, đại đội giao thông chiến lại phối hợp với du kích xã Cao An đánh mìn trên đường sắt và đường đá chạy song song với đường sắt từ Đồng Niên đến Cao An làm đổ 2 đầu tàu, 14 toa xe quân sự trên đường sắt, làm hơn 100 tên địch bị chết và bị thương, phá huỷ 1 xe tăng, 1 xe Zeep trên đường đá diệt 1 tên quan ba, 1 tên quan hai Pháp. Trận đánh mìn của ta ngày 6-4, địch phải ngừng hoạt động trên tuyến đường sắt 3 ngày để sửa chữa.

Đêm 2-4 đại đội giao thông chiếm đánh đoàn tàu quân sự của địch ở đoạn đường sắt chùa Dê xã Bình Định, sáng hôm sau (3-4) tiểu đoàn 652 phục kích ở đoạn đường cầu Ghẽ đi quán Gỏi diệt gọn một tiểu đoàn lính Âu Phi. Đêm ngày 6/4, đại đội giao thông chiến đánh đổ đoàn tàu tại đoạn đường sắt từ Đông Niên đi Cao An. Hôm sau 7-4 bộ đội Quảng Yên phối hợp với du kích huyện Nam Sách phục kích đánh địch ở đê La Đôi, xã Hợp Tiến, đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn lính Âu Phi và hai đại đội ngụy, bắt sống 47 tên. Cũng vào thời gian này đại đội 923 huyện Kinh Môn tập kích vị trí cầu Hang bắt sống 35 tên. Tại huyện Kim Thành đại đội 77 tập kích vị trí Viên Chử loại khỏi vòng chiến đấu 2 trung đội địch, bắt sống 32 tên, thu nhiều vũ khí, sau đó đại đội 77 tiếp tục tổ chức đánh viện, diệt thêm 1 trung đội địch. Tại huyện Cẩm Giàng, ngày 16-4 đại đội 98 thuộc trung đoàn 42 và bộ đội huyện phục kích trên đường 5 từ Quý Dương đến Ngũ Lộc, diệt gần một đại đội lính Âu Phi, bắt sống 85 tên, thu nhiều vũ khí. Ngày 14-4 bộ đội huyện Tứ Kỳ dùng nội ứng đánh bốt Đại Lộ, diệt 30 tên; đại đội 75 phục kích gần Kẻ Sặt diệt gọn 1 trung đội địch. Đêm ngày 20-4 tiểu đoàn 652 phối hợp với bộ đội tỉnh tập kích 1 tiểu đoàn quân địch tại làng Sải, diệt hai đại đội bắt sống 50 tên.

Trước những đòn đánh mạnh ở khắp nơi của quân và dân Hải Dương, để lấy lại tinh thần cho binh lính, ngày 20-4 địch dùng 300 quân càn vào làng Cậy, xã Long Xuyên (Cẩm Giàng) hòng tiêu diệt lực lượng ta ở đây. Nhưng chỉ có 30 du kích xã đã dũng cảm chiến đấu suốt một ngày, đánh lui nhiều đợt phản công của địch, tiêu diệt và làm bị thương hàng chục tên, đến chiều tối địch vẫn không vào được làng buộc phải rút lui.
Đêm 01/5/1954, chiến dịch Điện Biên Phủ tổng công kích đợt 3. Ngày 3-5 bộ đội tỉnh và bộ đội huyện Ninh Giang tập kích địch ở vị trí đền Tranh, đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn địch, diệt gần 2 đại đội, thu nhiều vũ khí; bộ đội huyện Tứ Kỳ tập kích đồn Quý Cao, xã Nguyên Giáp, bộ đội tỉnh tập kích tháp canh đường sắt ga Phạm Xá (Kim Thành) diệt và làm bị thương nhiều tên địch. Tại Đồng Niên (Cẩm Giàng) đại đội giao thông chiến của tỉnh đánh đổ 1 đầu tàu, 5 toa xe, diệt và làm bị thương 120 tên địch, tự vệ thị xã Hải Dương dùng 3 tạ thuốc nổ đánh cầu Lai Vu làm sập đầu cầu.

Với 3 đợt tổng công kích, ngày 7/5/1954 chiến dịch Điện Biên Phủ đã toàn thắng. Ngày 21/7/1954, thực dân dân Pháp phải ký hiệp đinh Giơnevơ chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương. Chiến công này có sự đóng góp to lớn và sự phối hợp kịp thời, có hiệu quả của quân và dân tỉnh Hải Dương.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hải Dương luôn chủ động tiến công địch và phát triển mạnh mẽ du kích chiến, tiến sâu vào vùng tạm chiến, chuyển các cơ sở ở vùng tạm chiến từ đấu tranh chính trị là chủ yếu sang đấu tranh vũ trang. Đã đánh liên tục đường sắt, đường số 5, với hàng nghìn mét đường sắt và đường số 5 bi bóc dỡ, đào bới, 9 lần đánh tàu, 26 lần đánh xe cơ giới, phá hỏng 5 đầu tầu, 32 toa xe, 32 xe quân sự, trong đó có 5 xe tăng; đã tập kích hơn 20 vị trí, chống lại hàng chục cuộc càn quét, tiêu diệt và làm bị thương hàng nghìn tên địch, thu nhiều vũ khí và quân trang quân dụng, đặc biệt là đã giam chân được lực lượng cơ động chiến lược của địch.

 

In trang Quay lại Lên trên
Trang chủ Liên hệ Sơ đồ Site
na