Skip navigation links
Trang chủ
Giới thiệu
Thời sự
Văn bản
Tuyên truyền
Thông tin CTTG
Khoa giáo
Giáo dục LLCT
Lịch sử Đảng
Văn hóa-Văn nghệ
Được cập nhật lúc : 13/05/2012 9:42 CH
Đồng chí Lê Thanh Nghi

       

 Tiểu sử đồng chí Lê Thanh Nghị

Trong kháng chiến chống Pháp, đồng chí là người lãnh đạo chủ chốt ở Liên khu Ba.

Nguyễn Khắc Xứng, sinh ngày 06/3/1911, trong một gia đình Nho giáo, có truyền  thống hiếu học, đến đời cụ Nguyễn Năng Việt (1874-1953), đã là đời thứ 12. Cụ Việt lấy nghề dạy học làm gia bản nên dân làng thường gọi là cụ Khoá Việt, cụ bà là Nguyễn Thị Mùi. Ông bà có 8 người con, trong đó 4 người con trai là: Nguyễn Khoái, tức Lê Thành Lập (1904-1985); Nguyễn Khắc Xứng, tức Lê Thanh Nghị (1911-1989); Nguyễn Năng Hách (1914-1981), nguyên Bí thư, Chủ tịch UBKCHC tỉnh Hải Dương trong kháng chiến chống Pháp; Nguyễn Thiệu Ước tức Lê Thành Ân, đều sớm giác ngộ cách mạng, qua đấu tranh gian khổ mà trở thành những cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước

Năm 16 tuổi, Nguyễn Khắc Xứng ra Hải Phòng làm thợ điện ở Nhà máy điện Cửa Cấm; thất nghiệp, ra vùng mỏ, làm ở Nhà máy điện Cọc 5, rồi trở về Vàng Danh làm phu mỏ. Tại đây, năm 1928, đồng chí  đã tham gia hoạt động cách mạng. Năm 1929, gia nhập tổ chức Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Đồng chí cùng chi bộ, lãnh đạo công nhân đấu tranh với bọn chủ mỏ, đòi tăng lương, giảm giờ làm, cải thiện đời sống. Năm 1930, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Để tránh sự truy lùng của mật thám, đồng chí lấy bí danh là Lê Thanh Nghị.

Tháng 5/1930, đồng chí bị địch bắt, giam tại nhà tù Hải Phòng cùng với các đồng chí Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt), Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh), Lương Khánh Thiện. Tòa đề hình của bọn cướp nước tuyên án đồng chí tù chung thân, đày ra Côn Đảo. Trong nhà tù vô cùng hà khắc, các chiến sĩ cộng sản đã biến nhà tù thành trường học, rèn luyện ý chí và phẩm chất của người cộng sản. Ở đây, đồng chí được học tập về Chủ nghĩa cộng sản, văn hoá và ngoại ngữ, chờ thời cơ trở về hoạt động.

Năm 1936, Mặt trận dân chủ Pháp lên cầm quyền, ân xá tù chính trị ở Đông Dương, đồng chí được trở về quê nhưng vẫn bị quản thúc. Địch cho đồng chí vào làm bàn giấy ở toà sứ để dễ quản lý, nhưng đồng chí không nhận, mà xin làm ở Nhà máy nước Ninh Giang để có điều kiện hoạt động thuận lợi hơn. Không bao lâu sau, đồng chí bắt được liên lạc với tổ chức Đảng, hoạt động bí mật ở Hải Dương và Hải Phòng, xây dựng nhiều cơ sở Đảng, rồi tham gia Thành uỷ Hà Nội.

Cuối năm 1937, đồng chí được cử về hoạt động ở Hải Dương.

Giữa năm 1939, công tác ở Xứ uỷ Bắc kỳ, tham gia Ban cán sự liên tỉnh B.

Đầu năm 1940, đồng chí bị bắt lần thứ hai, địch kết án 5 năm tù, đày tại Sơn La.

Đầu năm 1945, ra tù, trở về đúng lúc cao trào cứu nước do Đảng lãnh đạo thông qua Mặt trận Việt Minh dâng cao. Đồng chí được chỉ định vào thường vụ Xứ uỷ Bắc kỳ, dự hội nghị ngày 9/3/1945 của Ban Thường vụ Trung ương mở rộng. Hội nghị chủ trương đánh đuổi phát xít Nhật, thành lập chính quyền cách mạng, đồng chí được cử vào Uỷ ban quân sự Bắc kỳ, trực tiếp lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang ở vùng Châu thổ sông Hồng.

Sau Cách mạng tháng Tám, đồng chí là Xứ uỷ viên, phụ trách miền duyên hải. Năm 1946, là thường vụ Xứ uỷ; Toàn quốc kháng chiến, đồng chí làm Bí thư Khu uỷ Ba, kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Khu Ba, lãnh đạo các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng trong những năm kháng chiến đầy gian nan, nhưng giành nhiều thắng lợi to lớn. Đầu năm 1948, đồng chí làm Phó Bí thư Liên khu Ba; cuối năm đó, giữ chức Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; cuối năm 1949, lại trở về làm Phó Bí thư Liên khu uỷ khu Ba. Trong kháng chiến chống Pháp, đồng chí là người lãnh đạo chủ chốt ở Liên khu Ba.

Tại đại hội Đảng lần thứ hai (1951), đồng chí được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng, trực tiếp làm Bí thư Liên khu uỷ, kiêm Chủ tịch UBKCHC và Chính uỷ Bộ tư lệnh Liên khu Ba; năm 1953-1954, kiêm Bí thư Thành uỷ Hà Nội.

Hoà bình lập lại, cuối năm 1954, đồng chí làm Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; cuối năm 1955, giữ chức Bộ trưởng Bộ Công nghiệp. Tháng 10 năm 1956, được cử làm Uỷ viên Bộ Chính trị, một trong những vị lãnh đạo cao cấp của Đảng lao động Việt Nam.

Tại đại hội III và IV, đồng chí đều được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, Uỷ viên Bộ Chính trị. Năm 1960, được cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ, kiêm Chủ nhiệm Văn phòng Công nghiệp; Năm 1967, kiêm trưởng Ban Công nghiệp Trung ương. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ xâm lược, đồng chí có đóng góp to lớn trong công tác ngoại giao.

Năm 1974-1980, tiếp tục làm Phó Thủ tướng Chính phủ, kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước.

Năm 1980, làm Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng.

Từ tháng 7-1981 đến tháng 12-1986, đồng chí giữ chức Phó chủ tịch Quốc hội, kiêm Tổng thư ký Hội đồng Nhà nước.

Đồng chí mất tại Hà Nội, ngày 16-8-1989.

Do có công lao to lớn trong quá trình cách mạng và hai cuộc kháng chiến, đồng chí được tặng Huân chương Sao vàng, Huân chương cao quý nhất của Nhà nước ta.

Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Lê Thanh Nghị là tấm gương sáng về tinh thần cách mạng kiên trung ái quốc, sống và chiến đấu suốt đời cho lý tưởng cao cả, là niềm tự hào của mảnh đất Gia Lộc anh hùng, của quê hương Hải Dương truyền thoonga cách mạng, xứng đáng cho chúng ta và thể hệ mai sau noi theo.

Để tưởng nhớ đến công lao và đạo đức cách mạng của đồng chí, đồng thời nhằm phát huy truyền thống yêu nước tại địa phương, năm 2002, Tỉnh uỷ, HĐND và UBND tỉnh đã cho xây dựng Nhà tưởng niệm  đồng chí Lê Thanh Nghị, tại quê hương Thượng Cốc.

 

In trang Quay lại Lên trên
Trang chủ Liên hệ Sơ đồ Site
na