Skip navigation links
Trang chủ
Giới thiệu
Thời sự
Tin hoạt động TG
Văn bản
Tuyên truyền
Thông tin CTTG
Khoa giáo
Giáo dục LLCT
Lịch sử Đảng
Văn hóa-Văn nghệ
Được cập nhật lúc : 01/08/2013 6:59 SA
Những điều thấy ngoài trang sách

Tôi nhận bản thảo cuốn sách “Bà mẹ Việt Nam anh hùng tỉnh Hải Dương” do Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy (đơn vị  chủ trì việc biên soạn và in ấn, phát hành cuốn sách theo Chỉ thị của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hải Dương) gửi, với đề nghị đọc và tham gia ý kiến với Ban biên soạn. Tôi đọc một mạch, tuy rằng với gần 1000 trang A4 dày đặc các thông tin, việc “đọc một mạch” ấy không dễ dàng gì. Và đọc xong, biên tập xong, những điều ngoài trang sách cứ tạo thành một ám ảnh rưng rưng. Những thông tin, những con số tưởng như vô tri vô giác lại nói được thật nhiều về sự ghê sợ của chiến tranh, về những tấm “lòng mẹ bao la như biển Thái Bình”, về cả ký ức hào hùng nhưng biết bao đau thương của toàn dân tộc, một dân tộc mà nói như nhà thơ Nguyễn Đình Thi là “từ máu lửa/ Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”. Những điều ngoài trang sách ấy ám ảnh đến nỗi không thể không chia sẻ, không thể không nói lại thành lời…

Ám ảnh ban đầu là những cái tên! Ngồi biên tập sách, thi thoảng tôi lại bật cười một mình. Bởi vì những cái tên các mẹ nhiều khi nghe… buồn cười quá! Rồi cái cách các mẹ đặt tên con cũng thật ngộ nghĩnh. Ngày xưa, con cái luôn được đặt tên theo mấy nguyên tắc: tên cùng vần với bố mẹ, không cần ngữ nghĩa cao siêu gì, cứ con vần với bố hoặc với mẹ, em vần với chị, với anh. Cho nên, lắm cái tên được “xuất phát điểm” từ tên của mẹ, cứ vần tuốt tuồn tuột, chẳng cần biết tên ấy đẹp xấu ra sao. Tuy nhiên, ngồi ngẫm nghĩ, thấy các cụ không hẳn là không có lý. Bây giờ sinh con, chúng ta còn mất công mất sức ngồi tra cứu hết sách nọ đến sách kia, mong tìm ra một cái tên vừa hay, vừa ý nghĩa, sang trọng, độc đáo, lại còn hợp với mạng của con, hợp với mạng của bố mẹ… Những cái “tiêu chí” rắc rối đó khiến việc chọn tên cho con thật là một việc “nghiêm trọng” và khiến các bậc sinh thành lắm lúc cũng… đau đầu. Ngày xưa, các cụ cứ theo vần mà đặt. Đọc lên một tên là đoán cái người có tên ấy là con nhà nào, là anh, là chị, là em với những ai, những ai… Thành thử, có đi đến cùng trời cuối đất, chỉ nghe tên là đã ra gốc gác gia đình, đã nhận anh nhận em dễ dàng. Những cái tên một vần như sợi dây máu mủ ruột rà, tình nghĩa buộc chị với em, buộc em với anh, buộc bố mẹ với con cái… Làng tôi, có người lưu lạc tha hương từ năm đói 1945, quá nửa đời người chưa tìm được quê quán, bởi lẽ lúc theo mẹ ra đi còn quá nhỏ. Người mẹ không qua được tao đoạn đói kém đã ra đi khi chưa kịp trăng trối với con lời nào về gốc gác, cội nguồn. Trí nhớ của đứa trẻ lên năm ngày ấy chỉ đủ ghi lại tên mình và hình ảnh quê hương là một con đê rất cao, trồng nhiều nhãn, với một cái vực to, nước sâu có cây đa lớn trên bến…. Cứ dò hỏi, dò hỏi mãi, đến tận gần cuối đời, bà mới được một người tình cờ gặp cho biết: “Thế thì có lẽ bà quê ở quê tôi rồi. Quê tôi cũng có bờ đê, rặng nhãn, vực nước, cây đa như bà kể”. Hỏi tên bà là gì? Bà bảo: thuở bé, mẹ tôi gọi tôi là con Nhái! Bà khách kêu trời: Giời ơi! Thế thì đúng bà là em gái cánh nhà ông Ếch, ông Ộp, bà Cóc đây rồi… Thế rồi, cuộc trùng phùng đẫm nước mắt diễn ra. Một cái kết nghẹn ngào nhưng có hậu! Thử hỏi, không có cái tên theo “trường nghĩa” ấy, làm sao bà Nhái gặp được gia đình chỉ qua những lời hỏi thăm rất đỗi tình cờ như thế?

Cách đặt tên phổ biến nữa của các cụ là lấy tên con để thể hiện mơ ước của bố mẹ. Bây giờ, chúng ta vẫn đặt tên con theo cách ấy. Thế nhưng, cứ nhìn vào “những ước mơ của bố mẹ” ấy, đã thấy sự khác biệt thật nhiều giữa hai thời đại. Giờ, ước mơ của bố mẹ lớn lao hơn, đặt kỳ vọng vào con cái để con cái lớn lên thành những người kiệt xuất, thông minh, chí lớn, tâm trong… Còn ngày xưa, ước mơ của con người giản dị biết bao, chỉ là no cơm ấm áo, chỉ là sống được qua bao nhiêu tao loạn, qua bao nhiêu đói kém, thiên tai. Những cái tên đã đủ nói lên cuộc sống đầy gieo neo, bất trắc. Những cái tên của cuộc sống khốn khổ, bần hàn. Những cái tên nhọc nhằn, lam lũ… Nhìn bảng liệt kê tên tuổi các mẹ, đầu tiên, thú thực là thấy… buồn cười. Nhưng sau đó là rưng rưng nước mắt. Thương một thời cay đắng, lầm than của cả một dân tộc. Thương những mảnh đời lấm láp, khổ đau cụ thể đang hiện hữu trước mắt mình bằng những dòng tên. Và rồi, những cái tên  nhọc nhằn lam lũ ấy sáng lung linh trên những bảng vàng… Mới hay, không phải cái tên làm đẹp, làm sang cho con người, mà chính cuộc đời mỗi con người đã làm cho những cái tên hoặc rực rỡ lên, hoặc lụi tàn đi…

Chỉ từ những thông số ngắn ngủi của mỗi Bà mẹ Việt Nam anh hùng trong cuốn sách, thấy được cả số phận con người trong thời đại đầy đau thương và biến động của dân tộc. Rất nhiều bà mẹ Việt Nam anh hùng có một con duy nhất là liệt sỹ. Người Việt Nam quan niệm: con cái là của để dành của mẹ cha. Người ta có thể hy sinh tất cả, kể cả tính mạng mình vì con cái. Nhà đông con bao giờ cũng là nhà có phúc. Không phải ngẫu nhiên khi trong bộ Tam Đa, bao giờ ông Phúc cũng đứng đầu, sau đó mới là ông Lộc và ông Thọ. Vậy mà, biết bao bà mẹ đã gạt nước mắt, động viên người con độc nhất, tài sản lớn nhất và duy nhất của mình lên đường nhập ngũ. Chiến tranh, phận người mong manh hơn cây cỏ. Ra đi, ai cũng hẹn ngày trở lại, nhưng trong thâm tâm ai cũng biết rất rõ một điều rằng hy vọng trở về hết sức mỏng manh. Họa sỹ Lê Trí Dũng, người lăn lộn trên biết bao chiến trường máu lửa, được trở về nguyên vẹn đã nhiều lần bàng hoàng thốt lên: “Mình sống được đã là một điều vô lý”. Biết trước những khốc liệt của chiến tranh, nhưng các mẹ vẫn bình tâm động viên con lên đường nhập ngũ, cho dù đó có là núm ruột duy nhất của mình… Riêng việc nuốt nỗi đau vào trong để tiễn con đi vì Tổ Quốc, các mẹ đã xứng đáng với rất nhiều danh hiệu anh hùng!

Còn biết bao bà mẹ nữa, không chỉ một lần mà nhiều lần tiễn con ra trận; không chỉ một con mà đến mấy con hy sinh. Có mẹ vừa nhận giấy báo tử con lớn, lại tiễn con nhỏ lên đường. Không lời nào nói hết, không bút nào tả xiết nỗi đau của những người mẹ mất con. Những người mẹ vượt lên được nỗi đau ấy để tiếp tục động viên những đứa con còn lại ra đi vì Tổ quốc là những người mẹ vĩ đại nhất hành tinh. Sự hy sinh thầm lặng ấy không gì so sánh nổi. Những hy sinh xương máu có thể đo đếm được. Những vết thương trên cơ thể có thể còn liền sẹo theo thời gian. Nhưng nỗi đau mất đi những đứa con sẽ theo suốt cuộc đời, nhất là khi xế chiều cuối bóng, cần sự nâng giấc đỡ đần của cháu con… Các mẹ vẫn âm thầm không một lời than vãn, không một lần hối tiếc, không mảy may đòi hỏi… Nhiều người trong số các mẹ không còn sống đến ngày được vinh danh. Mấy chữ “được truy tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam anh hùng…” nghe nhói buốt tâm can. Cả cuộc đời các mẹ là sự hy sinh lặng lẽ… Có những nỗi đau không biết lấy gì so sánh, chỉ qua những thông số ngắn ngủi: mẹ có cả ba con là liệt sỹ… mẹ có cả 5 con là liệt sỹ… mẹ có chồng và cả 4 con là liệt sỹ… Có những gia đình gần như bị chiến tranh xóa sổ, chỉ còn một mình mẹ là nhân chứng của nỗi đau, nhân chứng của tội ác chiến tranh…

Những dòng trong trang sách gợi lên nhiều ám ảnh ngoài trang sách còn là những dòng trống thông tin về liệt sỹ. Có anh chỉ vẻn vẹn ngày tháng năm hy sinh, không thông tin gì thêm nữa. Đơn vị anh là gì? Anh chiến đấu và hy sinh nơi đâu? Hiện nay anh yên nghỉ nơi đâu? Không có! Trong chiến tranh, những gì vô lý nhất cũng có thể hiện hữu. Những đợt bom xóa sổ cả một tiểu đội, một trung đội… Không còn người nào sống sót để biết được đồng đội mình hy sinh ở đâu, gồm có những ai… Máu xương và đất đá, cây rừng trộn lẫn với nhau, không thể có được một nấm mồ cho các anh. Để rồi, ước nguyện cuối cùng của người thân là được một lần thắp nhang ở nơi anh ngã xuống, thắp nhang lên nấm mồ của các anh cũng không thể nào thực hiện. Bao nhiêu vòng hoa được thả xuống dòng sông lửa Thạch Hãn hằng năm? Bao nhiêu nén hương và lời khấn vọng? Bao nhiêu bà mẹ ra đi khi còn đau đáu nỗi mong chờ một ngày kia tìm được mộ con? Bao nhiêu hài cốt liệt sỹ vẫn còn đâu đó giữa đại ngàn Trường Sơn ngút ngát? Bao nhiêu ngôi mộ liệt sỹ vô danh rải rác trong các nghĩa trang khắp dải đất hình chữ S kiên cường? Bao nhiêu nước mắt của người hôm nay vơi được nỗi đau này?

Nhìn những năm sinh, năm hy sinh của các liệt sỹ, thấy các anh đều ra đi ở tuổi đời rất trẻ, hầu hết ở lứa tuổi đôi mươi, lứa tuổi đẹp nhất của đời người. Phần đông trong số ấy là những người chưa một lần được biết đến hạnh phúc lứa đôi, chưa có cho mình một mái ấm gia đình. Chiến tranh không cho phép con người nghĩ đến hạnh phúc cá nhân… Mười bảy, mười tám tuổi, các anh đã “gác bút nghiên theo nghiệp đao cung”, chỉ  với một ước mong giản dị: đánh đuổi kẻ xâm lăng, gìn giữ Tổ quốc mình. Trong số đó, rất nhiều người đang dang dở nghiệp sách đèn. Họ lên đường từ những mái trường Đại học. Đất nước phải dốc đến cái vốn cuối cùng của mình vào cuộc chiến, đó là những trí thức tài hoa. Đó là giai đoạn bi tráng nhất của lịch sử dân tộc. Những giấc mơ đẹp phải gác lại. Những bàn tay cầm bút, cầm cọ vẽ, cầm đàn, cầm sách… đã cầm cây súng! Khi chiến tranh mù mịt, việc phải nghĩ đến đầu tiên là chiến đấu. Và rồi, những “tài hoa ra trận” ấy, rất nhiều người vĩnh viễn nằm lại chiến trường. Nằm lại chiến trường khi trong ba lô vẫn còn cuốn sách đang đọc dở, khi trong đầu còn ăm ắp bao hoài bão. Những ao ước “khi nào hết chiến tranh…” đã mãi mãi không thành hiện thực…

Còn nhiều, nhiều lắm những điều ngoài trang sách khiến người đọc rơi nước mắt. Nhưng có một điều quan trọng nhất mà bất cứ ai cũng không thể lãng quên, đó là: cuốn sách không những ghi công các mẹ Việt Nam anh hùng, mà còn nhắc nhở mỗi con người hôm nay: sống làm sao cho không phụ xương máu những người đã ngã xuống hôm qua, những người đã đổi cả mạng sống của mình cho sự yên bình của Tổ quốc. “Uống nước nhớ nguồn”, câu tục ngữ giản dị ấy của dân tộc Việt Nam đã đủ nói lên những ứng xử cần thiết của chúng ta!

Việt Nga

 

In trang Quay lại Lên trên
Các tin mới hơn:
Các tin cũ hơn:
Trang chủ Liên hệ Sơ đồ Site
na