Skip navigation links
Trang chủ
Giới thiệu
Thời sự
Văn bản
Tuyên truyền
Thông tin CTTG
Khoa giáo
Giáo dục LLCT
Lịch sử Đảng
Văn hóa-Văn nghệ
Được cập nhật lúc : 10/09/2012 4:07 CH
Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ sinh học trên địa bàn tỉnh Hải Dương

 

Phong lan Hồ Điệp được nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tại Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học (Sở KHCN). Ảnh Hải Ninh

Thực hiện mục tiêu phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học ở Việt Nam đến năm 2020, trong những năm qua, Tỉnh uỷ và UBND tỉnh Hải Dương đã trực tiếp chỉ đạo các cấp, các ngành, các địa phương và nhân dân trong tỉnh đẩy mạnh việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ sản xuất và đời sống với những kết quả nổi bật.

Trước hết, trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, đối với cây lúa, qua triển khai dự án áp dụng công nghệ sinh học (CNSH) duy trì giống bố, mẹ để sản xuất hạt giống F1 lai 2 dòng, 3 dòng đã góp phần đào tạo được hàng chục cán bộ kỹ thuật chuyên sâu về sản xuất giống lúa lai F1, về duy trì và nhân dòng bố, mẹ. Dự án cũng đã sản xuất được hàng trăm tấn lúa lai F1 và hàng nghìn tấn giống lúa chất lượng cung cấp cho sản xuất đại trà của tỉnh như các giống: Bắc Ưu 903, Bắc Ưu 253, HYT 83, HD1, HD2. Hiện nay đã có hàng nghìn hộ nông dân ở các huyện Nam Sách, Bình Giang, Cẩm Giàng, Ninh Giang, Tứ Kỳ, Thanh Miện và thị xã Chí Linh gieo trồng các giống lúa này, góp phần đưa diện tích lúa lai và lúa chất lượng cao của tỉnh từ 25% diện tích năm 2007 tăng lên 50% vào năm 2011; đưa năng suất lúa lai đại trà tăng 1,5 tấn/ha so với lúa thuần.

Nhiều loại cây rau mầu và cây công nghiệp đã được khảo nghiệm, kết luận và áp dụng vào sản xuất đại trà, trong đó có các giống ngô có tiềm năng năng suất, chất lượng cao (LVN99, LVN24, LVN4, HQ2000, ngô lai, ngô nếp VN2, MX10, Waxy, v.v...) đã góp phần đưa năng suất ngô của tỉnh từ 32,86 tạ/ha năm 1997, tăng lên 45,62 tạ/ha năm 2010; sản xuất các giống lạc (TH16, LO3, L14, RQ-2, L18, LĐN02, L19, L23, L26 ..) đưa năng suất lên 29- 35 tạ/ha/vụ, tăng so với các giống cũ là 90-105%; sản xuất các giống đậu tương ( DT96, DT22, VX93, DT26, D9804, ĐT84, ĐT12, DT2008; ĐT20, Đ2101, Đ8) đưa năng suất đạt từ 17,17 tạ/ha năm 1997 lên 21,46 tạ/ha năm 2010; sản xuất các giống dưa hấu (Tứ Lạc Linh, Mỹ Linh, Hắc Mỹ Nhân, F1 super Hoàn Châu và một số giống dưa hấu được ghép trên gốc bầu) đều cho năng suất cao, chất lượng tốt, dễ bảo quản, vận chuyển; hai giống bí xanh số 1 và bí xanh số 2 được đưa vào sản xuất đại trà mang lại hiệu quả kinh tế cao...

Đối với các loại cây ăn quả, việc sưu tầm, tuyển, chọn, duy trì và phát triển nguồn giống cây ăn quả quý hiếm và ứng dụng công nghệ ghép chồi để cải tạo, nhân giống cây ăn quả góp phần rải vụ thu hoạch và nâng cao hiệu quả kinh tế vườn trên địa bàn tỉnh đã được thực hiện. Đến nay, tỉnh Hải Dương đã xây dựng được vườn cây ăn quả đầu dòng gồm nhiều loại cây ăn quả khác nhau tại Xí nghiệp Giống cây ăn quả và Cây dược liệu Cầu xe, huyện Tứ Kỳ để chủ động cung cấp giống cho người dân trong và ngoài tỉnh.

Các loại cây dược liệu, hoa và cây cảnh cũng được chú trọng đầu tư. UBND tỉnh Hải Dương đã đầu tư xây dựng phòng nuôi cấy mô tế bào thực vật tại Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học thuộc Sở Khoa học và Công nghệ để tiếp thu và làm chủ công nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật. Trong thời gian qua, phòng nuôi cấy mô đã thực hiện nhân nhanh các loại giống cây dược liệu như: Trinh nữ hoàng cung, Lô hội, các loại giống hoa phong lan, hoa đồng tiền ... đảm bảo chất lượng cung cấp cho sản xuất đại trà. Một số giống hoa mới đã được khảo nghiệm và nhân ra sản xuất diện rộng như hoa đồng tiền kép, hoa ly, hoa hồng Pháp, hoa phăng, hoa cẩm chướng của Đài Loan, v.v... Hiện nay việc trồng hoa và cây cảnh đã trở thành một nghề trong sản xuất nông nghiệp tại một số địa phương trong tỉnh Hải Dương mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Trong chăn nuôi gia súc gia cầm, CNSH được áp dụng vào thực hiện chương trình Sind hoá đàn bò. Hiện nay bò lai Sind chiếm gần 70% tổng đàn bò của tỉnh. Hải Dương cũng triển khai thực hiện dự án nghiên cứu và ứng dụng thành công các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất tinh dịch lợn và lợn gống, do đó đã góp phần đưa cơ cấu đàn lợn nuôi có năng suất, chất lượng ngày một tăng và số hộ gia đình nuôi lợn theo qui mô công nghiệp hiện chiến 25%.

Dự án nâng cao chất lượng chăn nuôi đã đưa một số giống mới vào sản xuất đại trà như các giống gà mới: Lương Phượng, Kabir, Tam Hoàng, Sasso, Be 707, gà mía lai, gà ri lai; giống ngan Pháp, giống vịt siêu thịt C.V Super M, giống vịt siêu trứng M.Khli cambell, CV 2000 Layer..; xây dựng thành công các mô hình: sản xuất giống gà lông mầu có năng suất, chất lượng, thịt ngon; nuôi gà ri thả vườn; gà tây Huba, gà sao...; dự án xây dựng mô hình sản xuất thịt gia cầm an toàn, chất lượng cao đang được thực hiện có kết quả ở nhiều huyện trong tỉnh; số hộ gia đình chăn nuôi gia cầm theo quy mô công nghiệp chiếm khoảng 30%.

Trong nuôi thuỷ sản, mô hình nuôi cá rô phi đơn tính, cá chim trắng, cá tra đạt kết quả tốt và được nhân rộng vào sản xuất. Trong 3 năm , từ năm 2005 đến 2007, chương trình Phát triển thuỷ sản hàng hoá tập trung tại các khu vực đất mới chuyển đổi được thực hiện tại 8 huyện trong tỉnh: Ninh Giang, Thanh Miện, Gia Lộc, Chí Linh, Thanh Hà, Kinh Môn, Bình Giang, Cẩm Giàng đã đưa năng suất nuôi cá thuộc mô hình lên 10-15 tấn/ha (trong khi các giống cá cổ truyền chỉ có thể đạt 2,5-3,0 tấn/ha). Việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi thuỷ sản đã góp phần đưa năng suất và sản lượng nuôi trồng thuỷ sản năm 2011 của toàn tỉnh tăng hơn hẳn so với những năm trước đây, trong đó riêng phát triển nuôi cá rô phi đơn tính trên địa bàn tỉnh đã đạt trên 4.000 ha, chiếm trên 40% sản lượng cá của cả tỉnh. Một số giống cá mới đang được nuôi thành công trên địa bàn tỉnh như cá lăng chấm nuôi trong ao đất, cá rô phi đơn tính lai xa cá trắm đen nuôi bằng thức ăn công nghiệp...

Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, CNSH và chế phẩm sinh học đang được ứng dụng trong một số lĩnh vực chế biến và bảo quản lương thực, thực phẩm như: sử dụng nấm men và kỹ thuật lên men trong sản xuất rượu, bia, nước giải khát, bánh mỳ, bánh ngọt; kỹ thuật lên men trong sản xuất rau muối chua, muối mặn; kỹ thuật bảo quản rau quả tươi bằng phương pháp duy trì sự sống; kỹ thuật lạnh đông trong chế biến thịt lợn cấp đông xuất khẩu. Công nghệ sinh học cũng được nhiều hộ nông dân trong tỉnh áp dụng để sản xuất nấm mỡ, nấm sò, nấm rơm, mộc nhĩ, nấm dược liệu và áp dụng kỹ thuật lên mốc để sản xuất tương. Bên cạnh việc ứng dụng CNSH trong chế biến, bảo quản lương thực, thực phẩm tỉnh Hải Dương đã xây dựng được một số cơ sở công nghiêp chuyên sản xuất phân vi sinh cung cấp cho sản xuất nông nghiệp.

Ngành y tế cũng áp dụng CNSH dùng các chế phẩm sinh học (dạng bán thành phẩm) để sản xuất thuốc chữa bệnh. Ngoài ra một số cơ sở y tế và một số hộ gia đình đã chọn lọc, nhân giống cây thuốc bản địa hoặc di thực cây thuốc từ nơi khác về để sản xuất dược liệu. Trong phòng trừ dịch bệnh đã sử dụng các loại vắc xin được sản xuất ở trong và ngoài nước để tiêm chủng. Trong điều trị bệnh, CNSH mới chỉ đươc áp dụng ở khâu xét nghiệm, tìm kiếm ký sinh trùng, vi trùng.

Đối với lĩnh vực môi trường, CNSH đã được áp dụng cho việc xử lý nước thải, rác thải rắn hữu cơ tại một số cơ sở và hộ gia đình. Một số doanh nghiêp, bệnh viện đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải bằng phương pháp vi sinh như: Công ty Bia-Nước giải khát Hải Dương, Xí nghiệp xăng dầu A318, Công ty TNHH Nghĩa Mỹ, Công ty TNHH Vạn Đắc Phúc, các bệnh viện tuyến huyện, Bệnh viện Tâm thần kinh, Bệnh viện y học cổ truyền, Bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng, Bệnh viện lao của tỉnh. Hiện nay trên địa bàn tỉnh các hộ nông dân xây dựng được gần 13 nghìn hầm sinh học, một số hộ gia đình đã sử dụng chế phẩm sinh học để xử lý ô nhiễm môi trường chuồng, trại chăn nuôi gia súc gia cầm, ao nuôi thuỷ sản. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Môi trường đô thị thành phố Hải Dương đã sử dụng chế phẩm sinh học để xử lý rác thải rắn hữu cơ tại bãi rác thải của thành phố. Sở Khoa học và Công nghệ đã ứng dụng thành công chế phẩm sinh học Fito-Biomix để xử lý rơm rạ sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ; năm 2011 đã xử lý được gần 44.000 tấn rơm rạ làm phân bón hữu cơ phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Nhìn chung trong những năm qua, tỉnh Hải Dương đã đặc biệt quan tâm phát triển ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ sản xuất, đời sống của nhân dân trong tỉnh đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội rõ rệt, tuy nhiên, quá trình thực hiện đẩy mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất và đời sống trên địa bàn tỉnh vẫn còn một số hạn chế, đó là: phạm vi ứng dụng còn hẹp; nhân lực cho công tác nghiên cứu, thực hành ứng dụng công nghệ sinh học còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng; cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực nghiên cứu triển khai ứng dụng của các phòng thí nghiệm có liên quan đến công nghệ sinh học tại các đơn vị trên địa bàn tỉnh còn rất hạn chế; ngành công nghiệp công nghệ sinh học còn chậm phát triển.

Để tiếp tục đẩy mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong thời gian tới, các cấp ngành, các địa phương trong tỉnh cần bám sát hơn nữa định hướng chung của tỉnh với những mục tiêu sau:

- Ứng dụng công nghệ sinh học để tạo ra các loại giống cây, giống con mới có năng suất, chất lượng cao và ứng dụng rộng rãi chế phẩm sinh học phục vụ sản xuất nông nghiệp của tỉnh đạt hiệu quả. Phát triển các cơ sở sản xuất bằng công nghệ sinh học có lợi thế của địa phương để có những sản phẩm, chế phẩm sinh học phục vụ sản xuất và đời sống cho nhân dân.

- Đẩy mạnh áp dụng công nghệ sinh học, chế phẩm sinh học để xử lý ô nhiễm môi trường trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và các hoạt động khác trên phạm vi toàn tỉnh.
- Đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật và xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học chuyên sâu để nâng cao năng lực cho các cơ sơ nghiên cứu và triển khai công nghệ sinh học phục vụ hiệu quả sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh.

Theo Tạp chí KHCN&MT

In trang Quay lại Lên trên
Các tin mới hơn:
Các tin cũ hơn:
Trang chủ Liên hệ Sơ đồ Site
na