Skip navigation links
Trang chủ
Giới thiệu
Thời sự
Tin hoạt động TG
Văn bản
Tuyên truyền
Thông tin CTTG
Khoa giáo
Giáo dục LLCT
Lịch sử Đảng
Văn hóa-Văn nghệ
Được cập nhật lúc : 11/09/2012 5:02 SA
Lồng ghép nội dung quán triệt Cương lĩnh với môn đường lối cách mạng cho sinh viên

Việc quán triệt những nội dung cơ bản Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng và những điểm mới của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011- dưới đây gọi chung là Cương lĩnh 2011) cho sinh viên, là yêu cầu cấp thiết, nhằm giúp họ nâng cao nhận thức, củng cố lòng tin vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, vào con đường đi lên CNXH ở nước ta. Đây cũng là nhiệm vụ bắt buộc đối với các trường đại học và cao đẳng.


Tuy nhiên, việc quán triệt này chưa được thống nhất trong hệ thống các cơ sở đào tạo và càng khó khăn hơn, khi các nội dung này không được quy định trong chương trình giảng dạy của các bộ môn khoa học lý luận chính trị những năm gần đây ở các trường đại học và cao đẳng.

Sau Đại hội Đảng lần thứ XI, do yêu cầu cấp thiết cần phải quán triệt nội dung Cương lĩnh 2011 cho sinh viên, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo lồng ghép thông qua việc giảng dạy môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, trên cơ sở cho rằng, Cương lĩnh có nội hàm phù hợp với môn học này, nhằm đạt được mục tiêu: “Cung cấp cho sinh viên những nội dung cơ bản về đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó chủ yếu tập trung vào đường lối của Đảng thời kỳ đổi mới trên một số lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội, phục vụ cho cuộc sống và công tác. Xây dựng cho sinh viên niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, theo mục tiêu, lý tưởng của Đảng”[1].

Tuy vậy, việc lồng ghét như thế nào vẫn đang còn có nhiều ý kiến khác nhau. Là người “trong cuộc”, trực tiếp giảng dạy môn học này, tôi xin được trao đổi một số kinh nghiệm bước đầu như sau:

Trước hết, để quán triệt những điểm mới của Cương lĩnh 2011, đòi hỏi giảng viên phải nghiên cứu, lựa chọn nội dung, đưa vào từng bài giảng một cách phù hợp, để vừa đạt được mục tiêu quán triệt nội dung Cương lĩnh và các nội dung của môn học, vừa không ảnh hưởng đến kết cấu chương trình và thời gian đã được qui định cho môn học; đồng thời, vừa tạo ra sự hứng thú cho sinh viên tham gia học tập và tham luận những điều còn chưa được sáng tỏ. Cụ thể, có thể lựa chọn đưa vào bài giảng những nội dung cơ bản như sau:

Thứ nhất, về những thắng lợi của cách mạng Việt Nam và bài học kinh nghiệm. Đây là phần rất quan trọng của Cương lĩnh 2011, tiếp tục khẳng định những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong hơn 80 năm qua, trong đó bổ sung thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đồng thời, cho thấy rõ những điểm mới trong các bài học kinh nghiệm, trong đó bổ sung thêm một số nội dung ở những bài học kinh nghiệm cụ thể, như trong bài học kinh nghiệm thứ hai, Đảng bổ sung và nhấn mạnh: “Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ XHCN, của Đảng” [2].

Đây là một vấn đề khó cắt nghĩa, trong khi chương trình môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam không có mục riêng trình bày nội dung này như môn Lịch sử Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam trước đây. Do đó, để quán triệt cho sinh viên, giảng viên có thể lồng ghép vào phần phân tích những thắng lợi, thành tựu, hạn chế, nguyên nhân trong việc thực hiện đường lối của Đảng trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể và trên những lĩnh vực cụ thể của từng thời kỳ (trước và trong quá trình đổi mới).

Quá trình lồng ghép đó, giảng viên có điều kiện phân tích, chứng minh một cách sinh động, thuyết phục những thành tựu và bài học kinh nghiệm, giúp sinh viên hiểu được thực chất thành quả của cách mạng Việt Nam, đồng thời hiểu rõ những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch luôn tìm cách phủ nhận những thắng lợi của cách mạng Việt Nam, phủ nhận con đường đi lên CNXH ở nước ta làm tác động tiêu cực đến nhận thức và tư tưởng của sinh viên. Qua đó, giảng viên có thể lý giải sâu hơn về những thiếu sót, bất cập của Đảng, là bài học mà Đảng cần nghiêm khắc nhận rõ để khắc phục, nhất là tệ quan liêu, tham nhũng, xa rời dân đã trở thành những nguy cơ lớn đối với đất nước, đối với chế độ, đặc biệt đối với Đảng trong giai đoạn hiện nay. Thông qua việc học tập, sinh viên sẽ nhận thức rõ bản chất của Đảng, bản chất của con đường đi lên CNXH và có trách nhiệm tích cực học tập, tham gia công cuộc xây dựng CNXH; tham gia xây dựng Đảng, kiên quyết đấu tranh chống lại các biểu hiện tiêu cực trong xã hội và từ đó rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức và xây dựng cho mình lý tưởng cách mạng theo con đường mà Đảng và Bác Hồ đã chọn.

Thứ hai, về bối cảnh thế giới, Cương lĩnh 2011 nêu rõ đây là thời kì có những biến đổi to lớn và sâu sắc. “Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức và toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ tác động sâu sắc đến sự phát triển của nhiều nước” [3]. Ba nhân tố này trong những thập niên tới sẽ tác động mạnh mẽ đến đời sống của các quốc gia, đời sống nhân loại. Đây là điểm mới mà giảng viên nên lồng ghép với nội dung Tình hình thế giới từ giữa thập kỉ 80 của thế kỉ XX đến nay trong Chương VIII - Đường lối đối ngoại. Giảng viên chú ý phân tích, làm sáng tỏ tính phức tạp của thời đại trong giai đoạn hiện nay. Đặc biệt là sự tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học công nghệ, của kinh tế tri thức và toàn cầu hóa so với trước đây. Từ đó, giúp sinh viên nhận thức rõ cơ hội, thách thức của đất nước và của chính bản thân trong giai đoạn lịch sử mới; định hướng cho sinh viên rèn luyện bản lĩnh, lập trường, chuẩn bị những tri thức cần thiết để chủ động đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của tình hình mới.

Thứ ba, về những đặc trưng cơ bản của CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng. Đây cũng là nội dung rất quan trọng, thể hiện những nhận thức mới của Đảng qua các Đại hội VIII, IX, đặc biệt là Đại hội X. Thông qua việc lồng ghép vào môn học Đường lối của Đảng, sinh viên hiểu được bản chất, tính ưu việt của CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng: “Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với su thế phát triển của lịch sử” [4]. Đây là một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới, nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức, kinh tế, xã hội đan xen. Đây là mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Sự lựa chọn con đường XHCN của Đảng ta cũng chính là sự lựa chọn của lịch sử để thực hiện khát vọng đó của nhân dân vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trước đây, chương trình môn Lịch sử Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam trong phần nội dung các Đại hội VII, VIII, IX, X của Đảng đều giới thiệu quan điểm, nhận thức mới của Đảng về những đặc trưng cơ bản của CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng, nhưng từ năm học 2008-2009 thực hiện giảng dạy theo chương trình các môn lý luận chính trị mới do Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành, thì trong chương trình môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam không có riêng một mục nào giới thiệu về những đặc trưng cơ bản của CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng. Do đó, để quán triệt nội dung này cho sinh viên, đòi hỏi sự linh hoạt rất cao của giảng viên trong quá trình giảng dạy. Tùy vào nội dung cụ thể của mỗi chương và mỗi bài giảng, giảng viên lựa chọn và giới thiệu đặc trưng tương ứng, phù hợp để khẳng định rằng các đặc trưng trên đã và đang được Đảng ta từng bước hiện thực hóa. Đồng thời, khẳng định cho sinh viên, đây là bản chất ưu việt của chế độ xã hội mới đã từng bước thể hiện rõ trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội.

Học sinh, sinh viên là thế hệ tiếp tục thực hiện nhiệm vụ lịch sử này và là lực lượng chủ lực, do đó các em cần thiết phải hiểu rõ những đặc trưng cơ bản của mô hình CNXH mà nước ta đang xây dựng để định hướng cho nhận thức và hành động của mình.

Thứ tư, về mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta và mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI. Cương lĩnh 2011 xác định “Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là: xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc” [5].

Mục tiêu đến “từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [6].

Nội dung này nên được quán triệt trong chương Đường lối công nghiệp hóa. Giảng viên chú ý nhấn mạnh mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là hướng tới vì con người, “... nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”. Hạnh phúc phản ánh bản chất của chế độ xã hội, phản ánh mục tiêu vì con người. Còn mục tiêu đến giữa thế kỉ XXI thể hiện tư duy nhất quán của Đảng, thể hiện quá trình phát triển của đất nước ta. Đảng ta xác định từ nay đến năm 2015 xây dựng nền tảng để nước ta đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đến giữa thế kỷ XXI trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng XHCN. Đây là cái đích phải đạt được của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta. Thế hệ sinh viên hiện nay sẽ là lực lượng chủ lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Do đó, sinh viên phải chủ động chuẩn bị đầy đủ mọi điều kiện đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, đảm bảo cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đạt được mục tiêu đề ra.

Thứ năm, về phương hướng cơ bản quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở kế thừa, bổ sung, phát triển những phương hướng đã nêu trong Cương lĩnh năm 1991 và ở Đại hội X, Cương lĩnh 2011 đã xác định 8 phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta như sau: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh”[7].

Những phương hướng trên nếu được lồng ghép quán triệt cho sinh viên trong khi giảng các chương Đường lối của Đảng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đối ngoại trong phần thời kỳ đổi mới thì sẽ rất phù hợp trong quá trình học tập và phù hợp với khả năng nhận thức của sinh viên. Qua đó, để sinh viên nhận thức được rằng, thực hiện có kết quả tám phương hướng nêu trên chính là điều kiện tiên quyết để đến giữa thế kỷ XXI nước ta có thể trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng XHCN và đến khi kết thúc thời kỳ quá độ, nước ta xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của CNXH với kiến trúc thượng tầng phù hợp. Bản thân các em phải có trách nhiệm tích cực tham gia thực hiện và tuyên truyền để mọi người cùng thực hiện các phương hướng đó.

Thứ sáu, về nắm vững và giải quyết tốt những mối quan hệ lớn trong quá trình phát triển của đất nước. Tổng kết quá trình thực hiện công cuộc đổi mới thời gian qua, Cương lĩnh 2011 đã xác định trong quá trình thực hiện các phương hướng cơ bản phải đặc biệt chú trọng, nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, mang tính chất biện chứng của đời sống xã hội: “Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”[8]. Giảng viên có thể quán triệt các nội dung này cho sinh viên cùng với phần giảng dạy về những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong việc thực hiện đường lối của Đảng trong các lĩnh vực về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đối ngoại thời kì đổi mới. Qua đó, giúp sinh viên nhận thức được rằng việc xử lý các mối quan hệ này rất hệ trọng, quyết định việc nước ta có đạt được những mục tiêu đặt ra trong thời kì quá độ lên CNXH hay không. Đây cũng là một khó khăn, thách thức lớn của nước ta hiện nay và trong tương lai. Ngay từ bây giờ sinh viên phải phát huy trách nhiệm cùng nghiên cứu, suy nghĩ, tìm tòi sáng tạo những giải pháp để tham gia giải quyết những mối quan hệ đó nhằm đưa đất nước ngày càng phát triển bền vững.

Trên đây là những nội dung cơ bản nhằm lồng ghép việc quán triệt Cương lĩnh 2011 vào chương trình giảng dạy môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các trường đại học, cao đẳng. Hy vọng, với phương pháp này và sự sáng tạo, linh hoạt, khả năng kết hợp nhuần nhuyễn các nội dung Cương lĩnh và môn học của giảng viên, sẽ giúp sinh viên nắm vững nội dung cơ bản đường lối cách mạng của Đảng nói chung và những nội dung mới cơ bản trong Cương lĩnh 2011 nói riêng. Sinh viên sẽ hứng thú học tập và dễ tiếp thu hơn là tổ chức các buổi quán triệt Nghị quyết và Cương lĩnh trong một thời gian riêng biệt. Qua đó, giúp cho sinh viên củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia vào các phong trào thi đua yêu nước, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng đất nước ngày càng phát triển, giàu mạnh, phồn vinh.

Theo tuyengiao.vn



[1].Bộ giáo dục & Đào tạo, Chương trình môn học Đường lối cách mạng của ĐCSVN (Ban hành theo Quyết định số 52 /2008/QĐ-BGDĐT ngày 18 tháng 9 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

[2].Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật. Hà Nội, 2011, tr. 65

[3]. Sđd, tr. 67

[4]. Sđd, tr. 70

[5]. Sđd, tr. 71

[6]. 6. Sđd, tr. 71

[7] Sđd, tr 72.

[8] Sđd, tr 72, 73.

In trang Quay lại Lên trên
Trang chủ Liên hệ Sơ đồ Site
na