Skip navigation links
Trang chủ
Giới thiệu
Thời sự
Văn bản
Tuyên truyền
Thông tin CTTG
Khoa giáo
Giáo dục LLCT
Lịch sử Đảng
Văn hóa-Văn nghệ
Được cập nhật lúc : 26/03/2013 10:08 SA
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập quốc tế là vấn đề lớn, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều cấp độ.

Hải Dương là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và là trung tâm của tam giác phát triển Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, diện tích tự nhiên 1662 km2 , dân số hơn 1.703.492  người (theo điều tra dân số năm 2009). Đây là một vùng đất giàu truyền thống cách mạng và nhiều tiềm năng phát triển. Trong hành trình lịch sử của dân tộc, nhân dân Hải Dương đã cùng nhân dân cả nước viết lên những trang sử huy hoàng. Người Hải Dương kiên cường bất khuất trong chiến đấu, cần cù, sáng tạo trong lao động, đoàn kết gắn bó trong xây dựng quê hương, đất nước. Sau hơn 25 năm đổi mới, với sự nỗ lực phấn đấu rất cao, Đảng bộ và nhân dân Hải Dương đã đạt được những thành tựu to lớn.

Quán triệt quan điểm, “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”(1), quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập quốc tế đã được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hải Dương nhận thức và giải quyết tương đối hiệu quả, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, cùng cả nước hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.

Tuy nhiên, cũng như nhiều địa phương trong cả nước, Hải Dương đã, đang và sẽ gặp những vấn đề lớn, cản trở quá trình hội nhập quốc tế: mâu thuẫn giữa yêu cầu ngày càng cao về phẩm chất, trình độ, năng lực với với những hạn chế, bất cập của chủ thể giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh; mâu thuẫn giữa yêu cầu ngày càng cao về xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ với quá trình hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức trong kỷ nguyên toàn cầu hóa; mâu thuẫn giữa những hạn chế, bất cập trong hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật Việt Nam, quy định của tỉnh với những quy định chặt chẽ của luật pháp quốc tế…

Việc nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam nói chung, và của Hải Dương nói riêng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Trong bài viết này, với khuôn khổ cho phép tác giả tập trung vào một trong những giải pháp hết sức quan trọng hiện nay, đó là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế.

Khái niệm “nguồn nhân lực” và khái niệm “nguồn lực con người”  đã được sử dụng rộng rãi và đều xuất phát từ cụm từ tiếng Anh là “Human Resources”. Hiện nay, có nhiều các tiếp cận và cũng do đó có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo chúng tôi, nguồn nhân lực trong giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập quốc tế bao gồm: cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo quản lý, doanh nhân, công chức, viên chức, nhân viên, người lao động với tất cả phẩm chất và năng lực tạo ra sức mạnh hoạt động và tham gia trong các lĩnh vực của hội nhập quốc tế. Với quan niệm như trên, chúng tôi cho rằng, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế của Hải Dương hiện nay, chúng ta cần quan tâm đến những nội dung cơ bản sau đây:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và của nhân dân về vị trí, vai trò của hợp tác, đấu tranh và giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập quốc tế của Việt Nam.

Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân về hợp tác và đấu tranh, giúp họ có thái độ tích cực trong hợp tác cũng như trong đấu tranh, nhìn nhận đầy đủ hơn vị trí, vai trò của hợp tác và đấu tranh và tính tất yếu nảy sinh những mâu thuẫn từ hội nhập quốc tế để phòng, chống tiêu cực, tệ nạn xã hội một cách hiệu quả hơn. Việc tăng cường giáo dục, bồi dưỡng tri thức đa ngành và chuyên ngành về hội nhập quốc tế, giúp mọi người nhìn nhận rõ hơn những mặt thống nhất để hợp tác và những khác biệt cần đấu tranh để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục sự tuyệt đối hóa hợp tác mà coi nhẹ đấu tranh, hay đề cao đấu tranh mà không thấy những cơ hội cho hợp tác.

Hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế đều có cơ sở khách quan, cần nhận thức đúng và thực hiện thống nhất. Tất nhiên, trong những điều kiện nhất định và những mối quan hệ xác định thì hợp tác hay đấu tranh có thể chiếm ưu thế so với mặt kia. Do đó, việc xem xét và giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh cần đặt trong những điều kiện cụ thể. Hợp tác hay đấu tranh một cách tùy tiện, nóng vội, chủ quan duy ý chí, không có cơ sở khoa học …  đều dẫn đến sai lầm và có thể gây ra những hậu quả tai hại.

Hợp tác và đấu tranh trong hội nhập quốc tế tồn tại như những mặt đối lập. Vì vậy, cần quán triệt các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về mâu thuẫn và “sự kết hợp các mặt đối lập” trong việc giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh. Theo đó, cần phân loại đối tác - đối tượng để hợp tác và đấu tranh, có phương thức giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh một cách linh hoạt, mềm dẻo, nhằm chuyển hóa các đối tượng thành đối tác.

Thứ hai, nâng cao phẩm chất, năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức giải quyết quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập quốc tế.

Cán bộ, công chức, nhân viên… giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh cần bám sát thực tiễn, nắm vững tình hình mới, vấn đề mới; tích cực học tập, trau dồi vốn sống, kinh nghiệm thực tiễn; rèn luyện để thông thạo ngoại ngữ và tin học; có bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng trong sáng, đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, vụ lợi,…, nhờ đó mà định hướng đúng mục tiêu, nhiệm vụ, lãnh đạo quần chúng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao; tránh hành động nóng vội, phiêu lưu, mạo hiểm.

Xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên … có phẩm chất và năng lực giải quyết tốt mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh, cần gắn với nâng cao chất lượng những cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực nhất là những cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học, chuyên gia, cán bộ quản lý kinh tế …

Đối với Trường Chính trị tỉnh Hải Dương, các trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, thành phố, thị xã là nơi trực tiếp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cấp cần đổi mới, vận dụng sát hơn phương pháp giảng dạy tích cực, nhằm phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của người học; nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, tư duy lý luận; kết hợp lý luận với thực tiễn, xây dựng ý thức chính trị với ý thức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Cùng với việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chuyên môn, nghiệp vụ công tác đảng, chính quyền, đoàn thể và các lĩnh vực liên quan, cần nghiên cứu đào tào, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức về hội nhập quốc tế, quốc phòng - an ninh. 

Đối với các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh, nhất là Trường Đại học Hải Dương (tiền thân là Đại học Kinh tế Kỹ thuật Hải Dương); Trường Đại học Sao Đỏ, … cần nâng cao chất lượng nguồn “đầu vào” đào tạo, nghiên cứu đổi mới nội dung, chương trình, phương thức đào tạo nhằm trang bị cho người học hệ thống tri thức khoa học cơ bản, cập nhật, chuyên sâu; kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết với thực hành, chú trọng thực hành; trang bị cho người học những hiểu biết cơ bản về các quy định, luật pháp quốc tế; đồng thời, giáo dục nâng cao ý thức chấp hành nghiêm các quy định của luật pháp Việt Nam và quốc tế.

Đối với các Sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh, các huyện, thị xã, thành phố, các tổ chức kinh tế … cần tiếp tục đổi mới công tác tổ chức cán bộ, thực hiện tốt các khâu: tạo nguồn quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng và đánh giá đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; coi trọng việc rèn luyện cán bộ, công chức, viên chức thông qua hoạt động thực tiễn; kết hợp đào tạo với sử dụng, sử dụng với đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức. Đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trẻ, mới vào nghề cần mạnh dạn giao việc, kết hợp với kiểm tra, giám sát, động viên, khen thưởng; giao những nhiệm vụ quan trọng để rèn luyện những người trẻ tuổi trong thực tiễn hội nhập quốc tế.

Thứ ba, nâng cao chất lượng các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng kiến thức khoa học và công nghệ có liên quan đến hội nhập quốc tế; chủ động tuyển chọn đưa người đi đào tạo ở nước ngoài; tích cực trao đổi chuyên gia trong và ngoài nước.

Nâng cao chất lượng các cơ sở đào tạo, làm cho nó thật sự là quốc sách hàng đầu, phục vụ tốt hội nhập quốc tế, chúng ta cần chú trọng ba phương diện: chính sách, ngân sách và kế sách.

Về chính sách, thực hiện nhất quán chính sách coi giáo dục - đào tạo là “quốc sách hàng đầu”. Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện cơ chế chính sách, pháp luật về giáo dục - đào tạo bám sát những yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế, kết hợp phát triển giáo dục đại trà với ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ hội nhập quốc tế.

Về ngân sách, tăng cường các nguồn lực đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ, huy động tối đa các nguồn lực, nguồn tài chính ngoài ngân sách nhà nước thông qua con đường xã hội hóa, mở rộng hợp tác quốc tế, kịp thời bổ sung kinh phí xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tham gia hội nhập quốc tế.

Về kế sách, nghiên cứu, tìm tòi những cách thức, biện pháp, việc làm cụ thể… để phát triển giáo dục - đào tạo phù hợp, gắn với yêu cầu phát triển kinh tế đối ngoại, hội nhập quốc tế, khắc phục những hạn chế, bất cập tồn đọng nhiều năm của giáo dục - đào tạo, phục vụ hội nhập quốc tế hiệu quả hơn.

Bên cạnh chất lượng những cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, chúng ta cần chủ động xây dựng kế hoạch, quy hoạch, tăng cường hợp tác quốc tế, lựa chọn, đưa cán bộ, sinh viên đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài để đào tạo chuyên gia, trao đổi chuyên gia đáp ứng yêu cầu phát triển của hội nhập kinh tế quốc tế.

Thứ tư, phát triển đội ngũ doanh nhân, cán bộ, nhân viên trực tiếp giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập quốc tế.

Với tư cách là chủ thể của hội nhập kinh tế quốc tế, đội ngũ doanh nhân và nhân viên trực tiếp giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập quốc tế có vai trò đặc biệt quan trọng. Hàng năm, số lượng con em Hải Dương tốt nghiệp Đại học Thương Mại, Đại học Ngoại thương, Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Quản lý kinh doanh... là rất lớn. Tuy nhiên, phần lớn trong số này không muốn về Hải Dương công tác. Hơn nữa, không thể có đội ngũ doanh nhân, nhân viên giỏi nếu chỉ nhờ sách vở và kiến thức ở nhà trường. Đối với đa số đội ngũ doanh nhân, tri thức thì có thể đến "từ bên ngoài" thông qua hợp tác, song để có đội ngũ doanh nhân giỏi thì cần giáo dục theo những giá trị chuẩn mực đạo đức của dân tộc, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; phê phán sự lạm dụng  “tính năng động”, “sự khôn ngoan”, “sáng tạo” để mưu cầu lợi ích cá nhân; làm ăn gian dối, “bất nhân” tạo ra sự nguy hại cho cả cộng đồng (thực phẩm nhiễm melamine, xả thẳng nước thải gây ô nhiễm môi trường…).

Phát triển đội ngũ doanh nhân và nhân viên trực tiếp giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập quốc tế hiện nay, chúng ta cần xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng, lập quy hoạch, kế hoạch phát triển cần đáp ứng yêu cầu của thực tiễn trước mắt và chuẩn bị cho tương lai, gắn quy hoạch, kế hoạch sử dụng với chính sách đãi ngộ, không để mất cân đối và chảy máu chất xám”. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, khắc phục phương pháp giáo dục xuôi chiều, thụ động, tăng tính gợi mở, kích thích đào sâu nghiên cứu, hình thành phương pháp tư duy và phong cách làm việc khoa học. Tăng cường rèn luyện kỹ năng thực hành, phát huy tính cực, chủ động của người học, biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo.

Đội ngũ doanh nhân, cán bộ, công chức, viên chức trẻ đang là mục tiêu tấn công, mua chuộc của các thế lực thù địch, hòng lôi kéo họ bằng những cám dỗ vật chất, hưởng lạc, hướng vào chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền và những giá trị tự do phương Tây, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng, suy thoái về đạo đức, lối sống … Do đó, cần coi trọng giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho doanh nhân, cán bộ, công chức, viên chức trẻ.

Thứ năm, vận dụng linh hoạt cơ chế, chính sách, pháp luật của nhà nước xây dựng cơ chế, chính sách đãi ngộ thỏa đáng trong hội nhập quốc tế của Hải Dương.

Kết quả hội nhập quốc tế không chỉ phụ thuộc vào trình độ, năng lực mà còn phụ thuộc rất lớn vào thái độ những người giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh. Thái độ của những người giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh lại bị chi phối bởi chính sách đãi ngộ của Nhà nước, của doanh nghiệp… Vì vậy,  chính sách đãi ngộ thỏa đáng, đúng người, đúng việc là một trong những nội dung quan trọng để phát huy nguồn nhân lực

Chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức, viên chức cần được xây dựng đảm bảo theo nguyên tắc: căn cứ hiệu quả thực hiện công việc, thỏa đáng, công bằng và minh bạch; thực hiện đồng bộ chính sách đãi ngộ, bao gồm cả đãi ngộ về vật chất và tinh thần. Trong đó, chính sách khuyến khích bằng lợi ích vật chất là cơ bản, chủ yếu và quan trọng nhất. Cụ thể là, thực hiện chính sách tiền lương và chính sách khác ngoài lương nhằm nâng cao hiệu quả công tác, làm trong sạch và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cán bộ, công chức; góp phần phòng, chống tham nhũng và các suy thoái về đạo đức, lối sống.

Đồng thời, xây dựng môi trường làm việc tốt để cán bộ, công chức phát huy tốt nhất khả năng của mình, tận tuỵ và gắn bó với công việc. Kết hợp thực hiện tốt chính sách đãi ngộ của Nhà nước với  chính sách đãi ngộ của doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế phù hợp, đảm bảo tính đa dạng và hiệu quả thiết thực.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập quốc tế là vấn đề lớn, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều cấp độ. Những nội dung trên đây mới chỉ đề cập đến những vấn đề chung nhất về phát huy nguồn nhân lực, góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập quốc tế của Hải Dương hiện nay./.

Phạm Xuân Thiên

Trường Chính trị tỉnh Hải Dương



(1) Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ  XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

In trang Quay lại Lên trên
Các tin mới hơn:
Các tin cũ hơn:
Trang chủ Liên hệ Sơ đồ Site
na