Skip navigation links
Trang chủ
Chỉ đạo, hướng dẫn
Hoạt động góp ý
Tổng hợp ý kiến
Được cập nhật lúc : 21/03/2013 2:54 CH
Góp ý sửa đổi Hiến pháp năm 1992 của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Hải Dương

I- Đánh giá chung về Dự thả sửa đổi Hiến pháp năm 1992

  Nhận xét chung về ưu điểm của toàn bộ Dự thảo sửa đổi Hiếp pháp năm 1992, gồm:

- Nội dung Dự thảo đã bảo đảm cuh thể hóa các quan điểm của Đảng trong Cương lĩnh và văn kiện của Đại hội Đảng khóa XI về sửa đổi Hiến pháp năm 1992, cụ thể:

+ Dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã xây dựng được cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

+ Dự thảo Hiến pháp đã thể hiện rõ nội dung đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng nền hành chính thống nhất, thông suốt, trong sạch, vững mạng; tổ chức tinh gọn và hợp lý; tăng tính dân chủ và pháp quyền trong điều hành của chính phủ.

+ Dự thảo sủa đổi Hiến pháp đã xác lập cơ chế bảo đảm phát triển nền kinh tế thị trường định hưỡng xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa; xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.

+ Dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã đổi mới tổ chức của hoạt động chính quyền địa phương theo hướng đảm bảo quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc quyêt định và tổ chức thực hiện những chính sách trong phạm vi được phan cấp; xây dựng chính quyền địa phương có sụ phân biệt về tổ chức, thẩm quyền của chính quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo.

- Nội dung sửa đổi, bổ sung tại Dự thảo Hiếp pháp đã giải quyết được những vấn đề bất cập, tồn tại của thực tiễn đặt ra trong quá trình tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992.

- Dự thảo Hiến pháp sửa đổi đã đảm bảo là đạo luật cơ bản của Nhà nước có tính dự báo và ổn định lâu dài.

II- Ý kiến tham gia

1- Về quy định cụ thể của Dự thảo

1.1 Lời nói đầu: Đề nghị bổ sung 4 từ “ quyền bình đẳng giới” vào sau “ Tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân” thành một câu đó là “ Tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền bình đẳng giới” vì những lý lẽ sau: Tôn trọng và báo đảm quyền con người, quyền công dân nói chung thì nhân dân Việt Nam, đất nước Viêt Nam sẽ tôn trọng và bảo đảm quyền bình đẳng giới nhằm thúc đẩy việc phát huy thế mạnh giới trong xây dựng và bảo vệ 4 chủ thể: con người, gia đình, xã hội, quốc gia. Trước hết sẽ hạn chế được sự mất cân bằng giới tinh khi sinh trong tương lai gần.

1.2 Chương I: Chế độ chính trị

  Đại đa số ý kiến tán thành Điều 10 của Dự thảo về việc bỏ cụm từ “ cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kimh tế, tổ chức xã hội” mà chi ghi “ công đoàn là tổ chức chính trị rộng lớn của giai cấp công dân và người dân lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện đại diện cho người lao động, chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của nhười lao động,…

  Một số ý kiến cho rằng cần bổ sung thêm từ “ phải” trong ý 2, Điều 4 “ Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình” thành “ Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân , phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những chủ trương, quyết định của mình”.

  Một số ý kiến tham gia, góp ý vào Điều 7, chương I cho rằng chất lượng hoạt động hiệu quả của cơ quan lập pháp- Quốc hội- suy cho cùng là hiệu quả của các đai biểu Quốc hội. vì vậy Hiếp pháp nên quy định khung về đại biểu Quốc hội, quy định chi tiết trong luật. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng mỗi quốc gia có mô hình cơ quan bảo hiến khác nhau, phụ thuộc thể chế chính trị, tổ chức bộ máy nhà nước và điều kiện cụ thể. Ở nước ta vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội thuộc về Đảng, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, luật tổ chức Quốc hội, luật tổ chức chính phủ cũng đã quy định rất chặt chẽ việc bảo đảm thực thi Hiến pháp và pháp luật. Cỏ chế bảo hiến đã được thực hiện khá tốt bởi Quốc hội, các ủy ban của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chỉnh phủ…, do đó không cần phải thành lập Hội đòng Bảo hiến. Dự thảo cần thể hiện thật đầy đủ các quan điểm lớn có tính nguyên tắc như: Nâng cao vai trò ddowcj tôn của Quốc hội trong việc lập hiến, lập pháp; cụ thể các quyền của Quốc hội trong việc giám sát, điều hành Chính phủ.

1.3. Chương II: Quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân

- Dự thảo sửa đổi Hiến pháp dùng từ “ mọi người” đã biểu thị quyền con người, một nội dung mới đã đưa vào dự thảo Hiến pháp, tuy nhiên chữ “ mọ người” bao hàm cả người mất quyền công dân, đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam thì Điều 23, 24, 26 …khẳng định: Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật gia đình, mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở … như vậy, người mất quyền công dân cũng sẽ có quyền nêu trên là không hợp lý, tham gia ý kiến: nên sửa lại giữ nguyên một số điều như đã nêu là vẫn giữ nguyên từ “ công dân” như cũ.

- Điều 47 Dự thảo ghi “ công dân có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc, phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất”. Theo quy định tại khoản 3 Điều 8 của Bộ luật hình sự thì không có khái niệm “ tội nặng nhất” mà chỉ quy định 4 mức tội theo khung hình phạt là tội ít nghiêm trọng; tội nghiêm trọng; tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng. Do đó phải đảm bảo đúng thuật ngữ pháp lý nên bỏ cụm từ “ phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất” thay vào cụm từ bị trừng trị theo quy định của pháp luật.

- Một số ý kiến cho rằng Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã đề cập, bổ sung đầy đủ và tương đối chặt chẽ và các quyền con người như quyền sống, quyền học tập, quyền có nơi ở… Tuy nhiên, Hiến pháp cần quy định về một nội dụng hết sức quan trọng được cử tri quan tamm chú ý là quyền được đảm bảo đất ở, đất sản xuất.

- Một số ý kiến đề nghị Hiến pháp sửa đổi 1992 nên thể hiện sâu sắc hơn quan điểm bảo vệ, tôn trọng quyền con người, bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân.

1.4. Chương VIII: Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân

Đề nghị bổ sung thêm khaonr 3 vào Điều 111 cụm từ ban hành án lệ. Theo đó khoản 3 Điều 111 như sau: Tòa án nhân dân tối cao thực hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử, ban hành án lệ, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử. Tòa án nhân dân tối cao thực hiện việc tổng kết xét xử ban hành văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử. Việc khẳng định hình thức duy nhất hướng dẫn áp dụng pháp luật không chỉ đảm bảo cho việc xét xử của tòa án phải dựa trên quy định của pháp luật mà còn đảm bảo tính thống nhất, mang tính bắt buộc chung với hệ thống tòa án trên cả nước khi áp dụng pháp luật tránh tình trạng tùy tiện hướng dẫn áp dụng pháp luật bằng các coongvawn, chỉ thị hiện nay, đồng thời việc bổ sung quy định này nhằm thể chế hóa nghị quyết 49 của Bộ chính trị về vấn đề phát triển án lệ trong cải cách tư pháp, là cơ sở đẻ hoàn thiện pháp luật, đặc biệt về tố tụng.

2- Về kỹ thuật lập hiến.

  Về bố cực và kết cấu, vị trí của các chương, điều, khoản của hiến pháp thể hiện chặt chẽ, sự kết hợp của một số chương của Hiến pháp năm 1992 thành các chương mới phù hợp với bối cảnh chính trị, kinh tế và vị trí mới của đất nước.

In trang Quay lại Lên trên
Các tin mới hơn:
Các tin cũ hơn:
Trang chủ Liên hệ Sơ đồ Site
na